Năm 2009, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy - hải sản (theo giá cố định năm 1994), toàn tỉnh thực hiện 7.501,95 tỷ đồng. Giá trị sản xuất trên diện tích đất nông nghiệp hiện nay đạt khoảng 45 triệu đồng/ha, tăng khoảng 1 triệu đồng/ha so với năm 2008. Đối với trồng trọt, diện tích gieo trồng năm 2009 là 282.046 ha. (cây lúa 231.849 ha, năng suất bình quân 4,64 tấn/ha, sản lượng đạt 1.076.867 tấn), trong đó có khoảng 40% sản lượng lúa đạt chất lượng cao, 50% diện tích sử dụng lúa giống cấp xác nhận, 90% diện tích sử dụng các giống lúa mới; cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày gieo trồng được 50.197 ha, tăng hơn năm 2008 là 1.259 ha. Cây lâu năm tổng diện tích cây dừa 13.500 ha, sản lượng 143,7 triệu quả; cây điều 410 ha, sản lượng 710 tấn; cây ăn trái 19.100 ha, sản lượng 186.770 tấn. Riêng chăn nuôi, mặc dầu năm 2009 gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh, song tổng đàn được giữ vững. Đàn bò, 162.000 con, gia cầm 4,5 triệu con.
Song song với trồng trọt và chăn nuôi thì nuôi trồng thủy sản năm qua cũng gặp nghiều khó khăn. Tuy nhiên diện tích thả nuôi 54.612 ha (diện tích nuôi tôm sú 21.000 ha, nuôi cua 12.000 ha, nuôi cá nước ngọt các loại khoảng 19.000 ha), tổng sản lượng 88.244 tấn (16.300 tấn tôm sú), trong nuôi tôm sú phần lớn người nuôi đã có ý thức về lịch thời vụ thả giống, trình độ kỹ thuật và kinh nghiệm nuôi được nâng lên đáng kể; nhiều đối tượng nuôi như: tôm sú, tôm càng xanh, cá tra, cua biển, nghêu, sò huyết… được nông dân chú trọng nuôi theo hình thức xen canh, luân canh để khai thác tốt tiềm năng, lợi thế của từng địa phương. Chuyển giao cho nông dân được những công nghệ sản xuất giống mới và có giá trị kinh tế; cải tiến được phương pháp tập huấn kỹ thuật; từng bước xã hội hóa trong sản xuất giống, nâng cao trình độ tay nghề và các tiến bộ kỹ thuật mới cho nông dân.
Đạt được kết quả trên là nhờ ngành nông nghiệp tập trung thực hiện sản xuất và cung ứng giống cho nông dân phục vụ sản xuất, đẩy mạnh chuyển giao và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là công tác xã hội hóa về giống cây trồng, vật nuôi. Trên lĩnh vực giống cây trồng, (giống lúa) Trung tâm Giống kết hợp sản xuất lúa giống cấp xác nhận, nguyên chủng, khảo nghiệm và trình diễn các loại giống. Đặc biệt, ngành đã xây dựng mạng lưới nhân giống lúa cấp xác nhận (cấp 1 và 2) trên địa bàn tỉnh với trên 130 tổ chức, cá nhân tham gia.
Năm qua, ngoài giống lúa, ngành nông nghiệp đã kết hợp sản xuất, thu mua 295 tấn bắp giống cho nông dân 2 huyện Cầu Ngang và Trà Cú. Đậu phộng, toàn tỉnh có khoảng 250 ha sản xuất giống với sản lượng khoảng 1.000 tấn, phục vụ sản xuất tại tỉnh và xuất bán cho một số tỉnh khác trong khu vực và miền Trung. Thực hiện chính sách phát triển trang trại giống heo và bò, đến nay toàn tỉnh có trên 50 trang trại, 30 điểm nhân giống (thuộc các chương trình, dự án) và hộ nhân giống trong nhân dân cung ứng đạt trên 70% nhu cầu giống bò và 90% nhu cầu giống heo. Mặt khác, trung tâm Giống thuỷ sản đã có 5 trại đã sản xuất, cung ứng 113 triệu con tôm, cá giống các loại (3 triệu con tôm thẻ chân trắng, 6,174 triệu con post tôm sú, 101 triệu con cá bột, 105.000 con cua biển, 1,487 triệu con cá các loại và 1,27 triệu con tôm càng xanh). Qua đó, hình thành mạng lưới sản xuất giống của tỉnh có 188 cơ sở sản xuất, ương dưỡng con giống thuỷ sản, bao gồm: 44 cơ sở ương, thuần dưỡng tôm sú giống; 122 cơ sở sản xuất tôm sú giống; 22 cơ sở sản xuất, ương dưỡng cá giống. Hàng năm cung ứng khoảng 50% nhu cầu con giống phục vụ nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh.
Theo ông Lâm Thanh Bình, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Sở NN-PTNT: Bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác phát triển giống tỉnh vẫn còn tồn tại một số mặt: Các cơ sở sản xuất và kinh doanh giống cây trồng, vật nuôi và thủy sản trên địa bàn tỉnh đa số nhỏ lẻ, phân tán, chưa được trang bị đầy đủ về cơ sở vật chất, kỹ thuật, thiếu sự đồng bộ. Từ đó, hiệu quả sản xuất chưa cao, chưa đáp ứng đủ nhu cầu về chủng loại, số lượng và ổn định về chất lượng. Trong quá trình sản xuất và kinh doanh giống, tuy đã hình thành các HTX, câu lạc bộ, tổ hợp tác sản xuất giống...các tổ chức sản xuất có phát triển nhưng chưa bền vững; công tác đầu tư cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, nghiên cứu ứng dụng để nâng cao chất lượng, phát triển sản phẩm giống nói chung, tuy đã được quan tâm đầu tư nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu các đề tài nghiên cứu khoa học chuyên ngành mang tính cơ bản và lâu dài; Quản lý Nhà nước trên lĩnh vực sản xuất và cung ứng giống vẫn còn nhiều bất cập: hệ thống các quy chuẩn, tiêu chuẩn về kỹ thuật và chất lượng, chưa hoàn chỉnh và áp dụng chưa rộng rãi, quy định về chế tài xử phạt vi phạm hành chính chưa đầy đủ và mức phạt thiếu tính răn đe,...Do đó, công tác quản lý chất lượng giống rất khó khăn, sự phối hợp giữa cơ quan quản lý với các ngành có liên quan và địa phương chưa đồng bộ, chặt chẽ; khâu quản lý và kiểm dịch giống còn yếu kém, chất lượng giống còn thả nổi...Điều này ảnh hưởng đến chất lượng cây, con giống của địa phương và là rào cản trong việc phát triển bền vững ngành nông nghiệp của tỉnh.
Nghị quyết năm 2010, cây lúa đạt diện tích 281.890 ha, sản lượng 1,1 triệu tấn, trong đó có khoảng 60% diện tích sử dụng giống lúa cấp xác nhận; cây màu, cây công nghiệp và cây khác 53.390 ha...
Để đạt được các chỉ tiêu trên, về giống ngành sẽ tăng cường công tác xã hội hóa, làm tham mưu với Tỉnh ủy, UBND tỉnh tiếp tục có chính sách phù hợp (sử dụng nguồn vốn đầu tư cho phát triển) trong lĩnh vực sản xuất giống; tiếp tục khẳng định, điều chỉnh vùng trồng (cây), nuôi (con) cho phù hợp và hiệu quả. Trên cơ sở đó, tỉnh, ngành sẽ xây dựng những đề án, dự án sản xuất giống nhằm cung ứng giống cho nông dân đồng bộ; tăng cường công tác quản lý giống, đẩy mạnh việc củng cố, thành lập các tổ, HTX sản xuất giống có hiệu quả. Đồng thời, mời các bộ, ngành chuyên môn hữu quan, các Trường Đại học, Trung tâm, Viện nghiên cứu..để hỗ trợ kỹ thuật, quy trình sản xuất giống mang tính tập trung, đại trà. Hỗ trợ kinh phí thực hiện các khảo nghiệm, sản xuất thử nghiệm nhằm tìm ra bộ giống chống chịu mặn, hạn và tiết kiệm nước.
Điều đặc biệt quan trọng, tăng cường công tác tuyên truyền trong cả hệ thống chính trị và nông dân về hiệu quả của sự liên kết giữa ”4 nhà” và áp dụng có hiệu quả chính sách ”tam nông”, tạo tiền đề vững chắc cho nông nghiệp Trà Vinh bước lên tầm cao mới, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đề ra giai đoạn 2010-2015.
Tin: Trường On