English | Khmer

     Góp ý    Liên hệ    Sơ đồ website Từ ngày 12/12/2012 Cổng thông tin điện tử tỉnh Trà Vinh vận hành phiên bản mới  
 
 
 
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
 
 
 
Skip portletPortlet Menu
  Đền thờ Bác Hồ

LỜI GIỚI THIỆU

“Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ, là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”1. Câu nói đó không chỉ là tình cảm sâu nặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh – lãnh tụ vĩ đại của nhân dân ta đối với đất nước, đối với đồng bào cả nước ta, mà còn là niềm thương yêu vô hạn đối với miền Nam thành đồng tổ quốc, đối với đồng bào miền Nam – Những người đi trước về sau trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Nhân dân miền Nam dẫu chưa một lần được gặp Bác, nhưng hình ảnh Người đã in sâu trong trái tim và khối óc, tượng trưng cho ý chí độc lập và tự do. Niềm tin vào Chủ tịch Hồ Chí Minh là niềm tin tất thắng của sức mạnh Việt Nam.


Sau khi Bác từ trần, quân dân Long Đức – Trà Vinh đã xây dựng ngôi đền ngay trong tầm bom pháo của kẻ thù, và kiên cường bảo vệ cho đến ngày miền Nam giải phóng 2. Sức mạnh nào đã giúp cho quân dân Long Đức – Trà Vinh có thể sống và chiến đấu hiên ngang như vậy ?.


Tài liệu này cố gắng giải đáp câu hỏi đó, nhằm cung cấp cho bạn đọc những nét cơ bản về quá trình xây dựng, chiến đấu bảo vệ Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh ở ấp Vĩnh Hội, xã Long Đức, thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.


Do nguồn tư liệu trong chiến tranh bị mất mát nhiều, khả năng có hạn, cho nên tập tài liệu này không tránh khỏi những khiếm khuyết. Rất mong sự góp ý chân thành của các bạn đọc gần xa.


               Trà Vinh, tháng 05 năm 2001
               BẢO TÀNG TỔNG HỢP TRÀ VINH

1 Hồ Chí Minh toàn tập - Tập 4, trang 174
2 Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ cách căn cứ quân sự Mỹ 1.500 m, cách cơ quan đầu não địch tại tỉnh lỵ chưa đến 4.000m.


CÔNG TRÌNH CỦA TRÁI TIM
Trần Bạch Đằng


Có những công trình rực rỡ được lưu truyền qua nhiều thế hệ mà đời sau băn khoăn mãi về nguồn sức mạnh tạo ra nó cũng như về tên của tác giả – một bà đỡ nào đó đưa ra sáng kiến đầu tiên. Đền thờ cố Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Long Đức, thị xã Trà Vinh thuộc trường hợp ấy, mặc dù đền thờ chỉ mới xây dựng cách đây hơn 10 năm thôi.


Tất nhiên chúng ta hoàn toàn hiểu đúng giá trị của con số 10 năm ấy. Ở miền Nam nước ta, độ dài thời gian không đơn thuần, tích tụ tự do tháng năm chồng chất, cái xa xôi không chỉ biểu hiện bằng rêu xanh hay dấu ấn điêu tàn. 10 năm đó rơi đúng và làm ranh phân chia hai số phận. Nửa về trước là quá khứ – một quá khứ mà đôi khi chúng ta chợt nhớ nó như nhớ cái gì mông lung, chập chờn.


Đồng chí Lê Duẩn ghi trong sổ lưu niệm đền thờ Bác ở Long Đức: Đền thờ xuất hiện đầy vẻ cổ tích. Quả như vậy, Đền thờ nằm trong một chuỗi dài vô tận những chuyện cổ tích nối đuôi hình thành lịch sử cả nước ta, lịch sử miền Nam và lịch sử tỉnh Trà Vinh, tỉnh Cửu Long. Không ít người trong chúng ta tự hỏi làm sao chúng ta, chính chúng ta chớ không ai khác làm được việc này, việc kia mà theo tính toán từ bên ngoài, điều đó hầu như là kỳ quặc, trường hợp mỗi chúng ta, khi nhắc kỷ niệm cũ sững sờ về sự sống sót của bản thân – một sống sót đôi khi phải giải thích bằng hai chữ mà ta biết là phi lý: số mạng.


Đền thờ Bác ở Long Đức, xét theo khái niệm đó, là một kỳ quan. Kỳ quan không vì qui mô của ngôi đền, nó chỉ là một ngôi nhà nhỏ, nhỏ hơn mọi ngôi nhà, vỏn vẹn 16 thước vuông, nó nhỏ dĩ nhiên, so với bất kỳ ngôi đình, ngôi chùa, ngôi miếu nào. Kỳ quan không vì chất liệu xây dựng. Lá, gỗ tạp, tol. Kỳ quan bình thường như  tô vẻ thêm. Ở đây, trên 1 dòng nước và sau là ruộng, cạnh bờ tre, một con đường xe chạy ngoài cổng … bây giờ, người ta thay mái lá bằng máy tol. Sai lầm ấy đang được khắc phục. Phải bảo vệ ngôi đền như thuở nó ra đời vì như vậy ngôi đền mới vĩnh viễn là một kỳ quan. Phải bảo vệ những vết đạn lỗ chỗ trên thân cột, trên những tấm tol dừng vách. Đó là những đường nét khắc họa cho thiên cổ tích Đền thờ Bác thêm đậm chất trữ tình.


Mọi ý nghĩa bắt nguồn từ 2 mệnh đề cấu thành Đền thờ Bác.


Mệnh đề thứ nhất: trên bờ phù sa một tỉnh cực Nam của đất nước, những người Kinh và người Khmer – kẻ sáng tạo ra cuộc sống Việt Nam bao nhiêu thế kỷ, lao động và giữ gìn biên cương nơi cuối trời. Nghe mà chưa một lần gặp Bác. Nghe Bác gọi họ xếp hàng hành quân dưới ngọn cờ của Bác cho một tuổi đời – Đời chung và đời riêng. Mức cảm thụ về Bác không hoàn toàn giống nhau trong họ. Bác là người cha nhân ái và vị anh hùng tài trí tuyệt vời, là bậc đưa đường chỉ  lối chưa từng có trong lịch sử miền đất nhiều đau thương này. Bác là đấng cứu thế, đấng cứu thế theo nghĩa trần gian, cứu thế với kết quả nhãn tiền, thiêng liêng mà không hoang đường. Bởi vậy Bác đến Trà Vinh từ những ngày đầu cách mạng. Đến Trà Vinh trẻ và già, trai và gái, người có trí thức khoa học và người chưa từng cắp sách đến trường, người Kinh và người Khmer, người tin có thánh thần và người không tin – đều tìm ở Bác một giải đáp cho muôn ngàn bài toán phức tạp đặt ra trong cuộc sống. Truyền thống tỉnh Vĩnh Trà được nối tiếp cực kỳ phong phú khi mọi người lắng nghe lời kêu gọi của Bác vào một mùa mưa năm 1945. Không hiếm gì hành động dữ dội mà động lực lại là một khẩu lệnh gọn gảy: Cụ Hồ dạy như vậy. Ngay cả trường hợp mà bài toán đố đáp số là sự hy sinh, người Vĩnh Trà sẵn sàng quên mình không hề đắn đo suy tính. Chưa ai thề trước Bác về một việc nào đó hàng ngày như người ta vẫn làm trước cho đấng bậc khác, song người Vĩnh Trà đã thề vì một cái trọng đại, nghiêm chỉnh hơn tất cả những lời thề. Nếu chẳng như thế, xã Long Đức đã không trở thành xã anh Hùng, tỉnh Trà Vinh đã không trở thành tỉnh anh hùng trong chống Mỹ. Nếu chẳng như thế, dân Vĩnh Trà đã không rửa sạch được cái nhục trăm năm trước. Cái nhục triều đình Huế và Phan Thanh Giản dâng Vĩnh Long cho Tây, dù Tây xâm lược giữa thế kỷ 19 không bằng một móng tay của Tây xâm lược giữa thế kỷ 20, càng vô nghĩa so với Mỹ, tất cả nhờ Cụ Hồ. Đó là kết luận đồng loạt của bất kỳ ai sinh trưởng trên bờ 2 con sông Cổ Chiên và sông Hậu.


Mệnh đề thứ hai: Đền thờ phải được xây dựng để vơi đi lòng thương nhớ Bác cuồn cuộn như nước triều dâng. Dân Trà Vinh bàng hoàng đến lặng người trước tin Bác mất. Cái tin khủng khiếp ấy, ụp đến giữa lúc toàn tỉnh đứng trước những đợt tấn công cực kỳ hung hản của kẻ thù. Vùng giải phóng Vĩnh Trà và riêng Trà Vinh bị thu hẹp, hệ thống đồn bót giặc giăng giăng làng mạc rung rinh vì các đợt B52, các cở pháo, bầu trời đen ngòm các tốp máy bay, các tốp trực thăng… Đế quốc Mỹ toan kết liễu phong trào cách mạng Trà Vinh, chính những chiếc loa phóng thanh từ máy bay hí hửng báo tin cho dân Trà Vinh biết Bác mất. Kẻ thù hòng khoét nỗi đau thấu tim gan này của dân Trà Vinh, một mất mát có chiều sâu để đạt được những ước ao mà hàng muôn, hàng vạn tấn bom đạn đã không làm được. Chúng chờ giờ phút của sự rã rời.


Dân Trà Vinh khóc. Tiếng khóc hầu như là âm thanh duy nhất của một vùng hoang tàn vì chất độc hóa học, đạn cày bom xới, vì chết chóc.


Kẻ thù đánh giá chính xác tấm lòng của dân Trà Vinh đối với cha của mình. Song, kẻ thù phạm sai lầm như chúng luôn phạm. Dân Trà Vinh cứ để cho nước mắt tuôn và dân Trà Vinh quyết vấn khăn tang theo phong cách của người miền biển.


Đền thờ mang nguồn gốc lịch sử như vậy đó.


Thật khó mà nói ai là người đầu tiên nảy ra những sáng kiến vĩ đại này. Có thể chăng nó từ những đêm dài đau buốt của Năm Nghĩa, mà đứa con trai bị giặc giết thê thảm: mổ bụng? Hay của Mười Chói, một đảng viên? Hay của Ba Đột, một giáo viên? Hay bà Nhẫn, hay một vị Lục cả, một vị cha nào đó? Hay của một người khuân vác mướn bến Trà Vinh.


Đến gần 400 tên trong bảng kê những người đầu tiên đóng góp cho ngôi đền khi cái nền còn đầy cỏ. Ta còn biết cả vài tập thể hết sức đặc biệt, Ban quản trị một thánh thất cao đài, các cao tăng một ngôi chùa. Đã lấy vật liệu xây thất, xây chùa dành một phần xây Đền thờ Bác.


Tất nhiên, người tổ chức thực hiện là Thị xã ủy Đảng Cộng sản bây giờ còn gọi là Đảng Lao động. Nhưng, Thị xã ủy từ chối vinh dự tác giả của sáng kiến này – sáng kiến đưa thị xã Trà Vinh vào một chương trong thần thoại của tỉnh Cửu Long.


Long Đức được chọn làm xã dựng đền thờ. Không phải ngẫu nhiên vinh dự ấy về Long Đức. Dựng Đền thờ để nhớ Bác và dựng Đền thờ để trả lời với giặc. Còn đâu tốt hơn Long Đức, cách thị xã Trà Vinh vài cây số, nằm dưới tầm các cở súng, có đến trên 20 đồn và sát căn cứ Mỹ nổi tiếng hung hăng. Và Long Đức giao cho ấp Vĩnh Hội bảo vệ nơi Bác nghỉ ngơi. Đền xây cách bót 400 thước thôi.


Công việc cất Đền thờ không giấu giếm. Nó không phải lén lút. Một cuộc vận động lớn, công khai. Mọi người đều biết quá trình dựng đền, giữ đền là một chiến dịch và chiến dịch chỉ kết thúc cùng với sự sụp đổ hoàn toàn của kẻ thù, nói cách khác đó là tuyên cáo của dân Trà Vinh với kẻ thù, là công trình mà dân Trà Vinh quyết giành cho hậu thế, ấp Vĩnh Hội với 45 nóc gia quyết khiêu chiến với kẻ thù.


Trận địa thật sự ra đời. Trước khi đắp nền, người ta đào công sự. Kể từ khi cắm cọc giăng dây mở màn cho đến lễ khánh thành phải cần 11 tháng, 11 tháng dựng một ngôi nhà nho nhỏ. Cuộc chiến đấu giữ gìn “công trường” ác liệt – ác liệt hơn mọi trận đánh thông thường.


Chỉ một tháng sau, sau ngày khởi công, khởi công ngày 10-3-70 địch đánh quy mô lớn vào ấp Vĩnh Hội. Trực thăng đổ quân, chia 4 mũi … rồi một tháng sau nữa địch hành quân cấp tiểu đoàn… Rồi cứ kéo dài mãi các cuộc hành quân… Khu vực xây Đền thờ là điểm bắn pháo của pháo các thứ, kể cả pháo của Hải quân và của các loại máy bay.


5 giờ chiều, hàng trăm người đến. Nghe pháo “đề pa” họ xuống chiến hào, dứt pháo, họ cầm đục, cầm cưa… “công trường” rộn ràng cho đến tận khuya. 30 tết năm 1971, ngôi đền đủ vóc vạc của một ngôi đền, 900 người dự lễ, có loa phóng thanh, có cờ mặt trận, có cắt băng, có diễn văn, có báo công… đồng chí Bí thư Thị xã ủy thưa với Bác: Trong năm xây dựng đền thờ Bác, quân dân thị xã Trà Vinh đã loại gần 1.000 tên địch. Bí thư xã Long Đức ghi vào sổ lưu niệm của Đền: Quyết giữ gìn Đền thờ…


7 ngày liền, hơn 10.000 người viếng Bác, viếng Bác ngay ngoại ô thị xã Trà Vinh, kế bên các đồn bót len lỏi giữa từng đợt pháo.


Đền thờ thách thức bẹo gan địch. Thế là chúng bất kể chết sống, lao đến, đền thờ bị đốt, tất cả công phu bị thiêu hủy, trừ ảnh Bác. Bức ảnh mà họa sĩ kháng chiến Phong Ba có công vẽ hàng mấy tháng trời, chúng khiêng ảnh Bác về đồn...


Những người dựng Đền thờ Bác, trong nỗi giận, tìm thấy một niềm vui: một lính ngụy vô danh để lại một số tiền và mấy hàng chữ “vì bị bắt buộc, tôi dự vào làm chuyện đại nghịch này. Tôi rất hối hận. Xin gửi lại chư vị một ít tiền. Cúng vào việc trùng tu đền thờ Cụ Hồ”.


Ai có thể nghĩ rằng dân Long Đức dám kéo biểu tình biểu tình đến tận dinh tỉnh trưởng ngụy, chất vấn tỉnh trưởng vì sao đốt nơi thờ phượng Bác? và ai có ngờ viên tỉnh trưởng hốt hoảng quá, hứa trừng trị đám lính, mà theo hắn đã “làm  bậy”.


Lại bắt đầu xây dựng Đền thờ Bác. Xây dựng trong những điều kiện gay go hơn. Tết 1973, dân Trà Vinh khánh thành lần nữa Đền thờ Bác.


Chưa hết, Còn một ít giờ đồng hồ là chế độ Mỹ, ngụy sụp đổ mùa Xuân 1975 kẻ thù bắn cháy một góc ngôi đền. Tất nhiên, đó là lần cuối cùng, cử chỉ cuối cùng ấy của kẻ thù thêm bằng chứng về tầm cao của ngôi đền.


Giữa hang Pác-Bó, nơi địa đầu phía Bắc của tổ quốc trùng trùng núi cao với Long Đức nơi mõm chồm đại dương cùng chung một niềm hạnh phúc. Cả hai đều đơn sơ như Bác vẫn đơn sơ kỳ quan chính nó từ dáng dấp đơn sơ ấy.

 

Truyện cổ tích nào cũng có bình dị cả. Người Vĩnh Trà tự hào về Đền thờ Bác. Họ biết rằng xây dựng được một kỳ quan có nghĩa là họ xây dựng được tất cả.
    Tháng giêng năm 1982

 

ĐỀN THỜ BÁC HỒ LÀ NIỀM TIN, NIỀM TỰ HÀO
             Trần Quang Thiện
         (Nguyên Phó Bí  thư Tỉnh ủy Trà Vinh)


Việc xây dựng và bảo vệ Đền thờ Bác Hồ của Đảng, dân, quân xã Long Đức trước hết là bằng tấm lòng, bằng trái tim. Trẻ, già, gái, trai đã cống hiến công sức, của cải và sẵn sàng hy sinh tính mạng của mình để chiến đấu với kẻ thù. Địch đến ta đánh, địch rút lui thì ta xây dựng, địch phá ban ngày thì ta xây dựng ban đêm.


Ngụy quyền Trà Vinh lúc bấy giờ vừa lo sợ, vừa căm tức khi biết được Đền thờ Bác Hồ đã được xây dựng ở ấp Vĩnh Hội, xã Long Đức  chỉ cách trung tâm đầu não của chúng khoảng 3km. Hơn nữa, ngôi đền đã thu hút hàng ngàn, hàng vạn đồng bào các giới ở nội ô thị xã trong những ngày lễ, Tết, tấp nập đến viếng thăm. Đó là sự thất bại về mặt chính trị và biểu hiện một mức độ nhất định về sự bất lực về quân sự của chúng.


Mùa khô năm 1971, bằng quân đông hỏa lực mạnh, bọn địch đã đánh và đốt Đền thờ Bác, nhưng sau đó đền đã được xây dựng lại. Chúng lại tiếp tục đánh phá, ngôi đền vẫn tiếp tục được nhân dân sửa chữa ngày càng khang trang hơn. Địch có thể đốt được ngôi nhà đơn sơ, nhưng không thể làm phai nhạt được lòng kính yêu của nhân dân đối với Bác. Chính vì vậy, địch càng đàn áp, khủng bố đốt phá ngôi đền, thì càng làm cho nhân dân căm thù chúng cao độ và trui rèn thêm ý chí đấu tranh, niềm tin mãnh liệt đối với Đảng và Bác.


Đã từ lâu mọi người đều mong muốn ngày miền Nam được giải phóng để đón Bác vào thăm, cũng như Bác đêm ngày lo lắng cho đồng bào miền Nam ruột thịt:

 

“Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà
Miền Nam mong Bác nỗi mong cha”.


Nhưng những mơ ước ấy không được toại nguyện bởi Bác đã đi xa. Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta cùng bè bạn khắp năm châu và nhân dân tiến bộ trên thế giới đều đau lòng thương tiếc Bác, nỗi đau tột cùng “Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa”. Bác không còn vào thăm được miền Nam, nhưng Bác đã đến được với trái tim của muôn người “Suốt đời tôi hết lòng, hết sức phục vụ tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”. Đền thờ Bác là một kỳ tích tiêu biểu cho ý nghĩa đó.


Với niềm tin mãnh liệt ở Đảng, ở Bác, đảng viên, cán bộ, chiến sĩ ta trong lúc khó khăn gian khổ, hiểm nghèo nhớ đến Bác và Đảng mọi người như được truyền thêm cho mình sức mạnh để chiến thắng kẻ thù, hoàn thành nhiệm vụ. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975, các lực lượng vũ trang và chính trị của tỉnh ta trước khi hành quân tấn công vào  thị xã để tiêu diệt sào huyệt cuối cùng của địch, đã dừng quân trước Đền thờ Bác để tưởng niệm và tuyên thệ. Trên ngực của nhiều người có mang phù hiệu “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Buổi xuất quân như có Bác dẫn đường, lòng mọi người náo nức vào trận và nghe tiếng Bác còn văng vẳng bên tai “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.


Đền thờ Bác trở thành di sản quý báu của nhân dân. Đảng, dân, quân Long Đức đã được tuyên dương anh hùng. Với Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Long Đức nói riêng, nhân dân Trà Vinh nói chung đã xây dựng nên một pháo đài niềm tin trong lòng người đối với Đảng và Bác Hồ, góp phần tạo nên sức mạnh trong chiến đấu giải phóng quê hương, thống nhất đất nước.


Đền thờ Bác đã được tôn tạo trở thành di tích lịch sử văn hóa. Đến nay đã có hàng ngàn đoàn khách trong và ngoài nước đến viếng thăm. Đặc biệt đã có nhiều đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước ta như: đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn, Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh (nay là Tổng Bí thư), Chủ tịch nước Lê Đức Anh, Thủ tướng Phạm Hùng, Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình v.v... đến thăm. Ngày nay quang cảnh nơi đây có nhiều đổi mới, đường xá, trường học, chợ, bệnh xá, ... được xây dựng, nguồn điện bước đầu về với nhân dân Long Đức, đời sống nhân dân được nâng lên, đó là điều chúng ta rất vui mừng, phấn khởi. Nhưng chúng ta không bao giờ quên được những cán bộ, chiến sĩ đã dũng cảm ngày đêm bám chiến hào sẵn sàng hy sinh để bảo vệ ngôi đền, bảo vệ từng tấc đất của quê hương. Trách nhiệm của chúng ta phải chăm sóc hàng trăm gia đình thương binh liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng đang sống trên mảnh đất mà ngày trước họ đã từng đổ máu để giữ gìn. Đó là việc làm thủy chung, uống nước nhớ nguồn. Đền thờ Bác phải luôn được tu chỉnh kết hợp với các hoạt động lễ hội ... để thật sự là nơi giáo dục truyền thống cách mạng một cách hiệu quả cho nhân dân, đồng thời cũng phải chú ý xây dựng cho đời sống nhân dân Long Đức ngày càng phát triển về mọi mặt.

 

Nhân dân Trà Vinh trong chiến tranh đã tự hào lập nên Đền thờ Bác. Chính từ niềm tin đi theo con đường của Đảng và Bác Hồ đã chọn - con đường chủ nghĩa xã hội - mà nhân dân tỉnh nhà đã có thêm sức mạnh để đánh thắng kẻ thù góp phần giải phóng quê hương. Ngày nay khi hướng về tương lai chúng ta quyết tâm thực hiện đúng lời di huấn của đồng chí cố Tổng Bí thư Lê Duẩn “Chúng ta mãi mãi là con cháu trung thành của Bác Hồ”.


Đền thờ Bác là biểu tượng cao đẹp của lòng kính yêu của nhân dân ta đối với Bác. Đó là niềm tự hào cho trang sử vẻ vang của sự nghiệp đấu tranh anh dũng của nhân dân tỉnh nhà. Biểu tượng đó nhắc nhở mọi người chúng ta lao động, học tập, công tác quên mình, không ngừng rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng, hướng theo gương sáng của người cha, người thầy vĩ đại, vị lãnh tụ thiên tài kính yêu của dân tộc. Biểu tượng đó đã góp phần hun đúc niềm tin, tạo thêm sức mạnh cho chúng ta vượt qua mọi khó khăn hiện tại để vươn tới một tương lai sáng lạn, thật sự làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Bác Hồ đã chọn.


TRÀ VINH THỰC HIỆN DI CHÚC CỦA BÁC
           Nguyễn Thanh Phong
           (Nguyên Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy

       Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Trà Vinh)


Nhận được tin Bác Hồ kính yêu - Cha già của dân tộc - vị lãnh tụ vĩ đại của Đảng ta đã đi xa, Đảng bộ và quân, dân Trà Vinh cũng như đồng bào cả nước vô cùng đau sót và thương tiếc, nỗi mất mát này thật là vô hạn “đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa”. Đối với kẻ thù xâm lược Mỹ và tay sai của chúng cho rằng vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc không còn nữa thì cách mạng Việt Nam sẽ bị chúng đè bẹp. Ở Trà Vinh chúng tăng cường dùng mọi thủ đoạn tuyên truyền chiến tranh tâm lý, đàn áp, khủng bố dã man, hòng lợi dụng điều kiện này để lung lạc tinh thần cách mạng của nhân dân ta. Nhưng chúng đã lầm! Chúng không sao hiểu được vị lãnh tụ vĩ đại, người Cha kính yêu của dân tộc Việt Nam tuy đã đi xa nhưng để lại cho đất nước, cho con cháu, cho đồng bào đồng chí một di sản vô cùng quý báu đó là tư tưởng cách mạng của Người và bản di chúc bất diệt.


Thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ, trong khói lửa chiến tranh với muôn vàn gian lao thử thách. Đảng bộ và quân dân Trà Vinh đã đoàn kết một lòng biến đau thương thành sức mạnh, mỗi ấp, khóm, phum, sóc quê hương Trà Vinh là pháo đài đánh giặc, mỗi người dân là một chiến sĩ, ngay trong vùng địch kiểm soát bằng nhiều hình thức đấu tranh thích hợp với địch, nhiều gia đình, một số chùa chiền là cơ sở nuôi chứa, bảo vệ cán bộ cách mạng, nhiều nhân sĩ trí thức, công thương gia, sinh viên, học sinh, ... kể cả một số người trong hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền là cơ sở của cách mạng. sau khi nghe tin Bác mất nhân dân trong tỉnh nhiều gia đình, kể cả gia đình trong vùng địch tạm chiếm đã lập bàn thờ tưởng nhớ Bác và để tỏ lòng tôn kính Bác Hồ năm 1970, 1971 tại ấp Vĩnh Hội, xã Long Đức Đảng bộ và nhân dân thị xã Trà Vinh xây dựng Đền thờ Bác Hồ mặc cho kẻ thù điên cuồng đánh phá nhiều lần nhưng Đền thờ Bác Hồ - công trình của những trái tim vẫn trụ vững như tấm lòng nhân dân Trà Vinh đối với cách mạng, đối với Bác Hồ.


Quân, dân Trà Vinh đẩy mạnh cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện với phương châm ba mũi, từ cuối năm 1971 Cục diện chiến trường miền Nam đã mở ra nhiều triển vọng mới, thực  hiện chủ trương của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng phát động cuộc tổng tiến công chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam vào đầu năm 1972 tạo cho được thắng lợi mới có tính chất quyết định, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn. Oanh liệt, tự hào nhất là Đảng bộ và quân, dân Trà Vinh phối hợp chiến trường chung tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa với tinh thần tự lực, tự cường giải phóng tỉnh nhà cùng lúc giải phóng Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử ngày 30 tháng 4 năm 1975, góp phần cùng cả nước giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vô cùng gian khổ hy sinh nhưng rất vẻ vang. Đảng bộ và quân, dân Trà Vinh cùng đồng bào cả nước thực hiện đúng lời Bác dạy “đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào”, “Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn”. Cùng với niềm vui chung của dân tộc, Đảng bộ và quân, dân Trà Vinh cùng đồng bào cả nước ra sức hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống nhân dân như Bác đã dạy “thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay” qua 30 mươi năm chiến tranh ác liệt bom đạn, chất độc hóa học của kẻ thù tàn phá ruộng, vườn, màu xanh của sự sống, đất bị hoang hóa, nhiều gia đình ly tán, hàng vạn lao động không việc làm, nền kinh tế vốn nghèo nàn lạc hậu... khó khăn chồng chất khó khăn. Nhưng dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sau ngày 30/4/1975 Đảng bộ và nhân dân Trà Vinh tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, nêu cao ý chí tự lực, tự cường cùng với sự giúp đỡ của Trung ương, của tỉnh bạn đã vượt qua khó khăn đạt nhiều thành tựu trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, năm 1985, kỷ niệm 10 năm giải phóng, Trà Vinh - Vĩnh Long (tỉnh Cửu Long) được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khen thưởng Huân chương Sao vàng cao quí.


Năm 1992, do yêu cầu phát triển chung trong tình hình mới, tỉnh Trà Vinh được tái lập, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Trà Vinh lần thứ V và thứ VI, thời gian tám năm tuy ngắn nhưng Đảng bộ và quân, dân trong tỉnh có quyết tâm cao, nỗ lực phấn đấu lớn khơi dậy và khai thác có hiệu quả các nguồn lực, trong 5 năm 1996 - 2000 tốc độ tăng trưởng bình quân đạt gần 9%/năm, không còn hộ đói, giảm hộ nghèo từ 17,88% xuống còn 7,58%, thu nhập bình quân đầu người tăng từ 2.535.000đ/năm 1995 tăng 4.514.000đ/năm 2000, phong trào xây dựng nếp sống văn minh gia đình văn hóa, ấp, khóm, xã, phường văn hóa và cuộc sống mới ở khu dân cư được nhân dân đồng tình hưởng ứng. Các chương trình quốc gia về y tế, dân số kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ chăm sóc trẻ em được thực hiện tốt, gần 50% trạm y tế có bác sĩ.


Về đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, Trường Chính trị tỉnh, Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, thị hằng năm đào tạo, bồi dưỡng nhiều đối tượng cán bộ trong tỉnh, nhất là cán bộ cấp cơ sở.


Trung tâm giáo dục thường xuyên, trường trung học sư phạm, các trung tâm dạy nghề được xây dựng và đi vo hoạt động góp phần trong việc đào tạo nhân lực, nâng cao tay nghề cho lao động trong tỉnh, các bậc học, ngành học được chú trọng, khắc phục cơ bản phòng học ca 3, chất lượng dạy và học được nâng lên, giáo dục trong đồng bào dân tộc Khmer từng bước được tăng cường, có 6 trường phổ thông dân tộc nội trú, năm 1998 tỉnh đã hoàn thành đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học trong độ tuổi. Thị xã Trà Vinh và một số huyện chỉ đạo thí điểm phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, xây dựng lực lượng quốc phòng toàn dân, phong trào quần chúng bảo vệ an ninh chính trị, trật tự xã hội, thực hiện cải cách thủ tục hành chính, qui chế dân chủ ở cơ sở đạt kết quả bước đầu, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy, tình đoàn kết dân tộc, lương giáo luôn được củng cố và tăng cường.


Công tác xây dựng Đảng được Tỉnh ủy và các cấp ủy Đảng trong tỉnh tập trung thực hiện, nhất là từ khi có Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VII) về nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng phương thức lãnh đạo của các cấp ủy Đảng có bước đổi mới, các cấp ủy Đảng đều có xây dựng và thực hiện quy chế làm việc, luôn đề cao nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện thường xuyên công tác tự phê bình và phê bình trong cấp ủy, trong Chi, Đảng bộ, thực hiện chủ trương kê khai nhà, đất, thu nhập đối với cán bộ chủ chốt từng cấp và tổ chức đưa đảng viên tự phê bình và phê bình trước hội viên đoàn thể và quần chúng nhân dân. Qua đó, các đoàn thể và quần chúng nhân dân tham gia xây dựng Đảng ngày càng tốt hơn - từ đó tổ chức Đảng được xét công nhận trong sạch vững mạnh (năm 1995 đạt 59,28% - năm 2000 đạt 79,22%), số lượng đảng viên năm 1995 là 11.447, chất lượng đảng viên loại I đạt 79,15%, năm 2000 đảng viên 16.600, chất lượng đảng viên loại I đạt 82% đủ tư cách và phát huy tốt, đảng viên vi phạm kỷ luật giảm. Đó là tiền đề, là điều kiện để Đảng bộ tỉnh Trà Vinh thực hiện tốt NQTW 6 (lần 2).


Từ sau tiếp thu NQTW 6 (lần 2) về cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tiến hành tự phê bình và phê bình nhân kỷ niệm 30 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và 70 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đối với Tỉnh ủy Trà Vinh qua một năm thực hiện NQTW 6 (lần 2) cơ bản đạt được yêu cầu, mục tiêu đề ra. Qua kiểm điểm đã nâng cao nhận thức tư tưởng chính trị của Đảng bộ, trước hết là trong các cấp ủy thống nhất cao đường lối, chủ trương của Đảng, nâng cao trách nhiệm cấp ủy mà đứng đầu là đồng chí Bí thư, Phó Bí thư cấp ủy, là hạt nhân củng cố sự đoàn kết thống nhất trên nguyên tắc tập trung dân chủ được tôn trọng và phát huy.


Qua kiểm điểm đánh giá được những mặt mạnh, mặt yếu của Ban Thường vụ, cấp ủy viên và đảng viên tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuẩn bị nhân sự Đại hội Đảng các cấp trong tỉnh tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng thành công.


Để tiếp tục góp phần thực hiện hoài bảo và Di chúc của bác Hồ kính yêu, của đồng bào đồng chí đã anh dũng hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, để chuẩn bị hành trang bước vào thế kỷ 21, xây dựng tỉnh Trà Vinh ngày càng giàu đẹp hơn, sánh vai cùng các tỉnh bạn trong khu vực và cả nước. Chào mừng thắng lợi Đại hội Tỉnh Đảng bộ lần thứ VII và Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, chúng ta tin tưởng rằng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Trà Vinh sẽ tiếp tục phát huy với những kết quả đạt được về phát triển kinh tế - xã hội, về xây dựng chỉnh đốn Đảng và trước mắt tập trung nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức Đảng trong tỉnh. Với truyền thống toàn dân nổi dậy, đoàn kết lập công. Phát huy tinh thần tự lực, tự cường chúng ta sẽ thực hiện tốt nội dung Di chúc của Bác Hồ. Nhân dân Trà Vinh cùng đồng bào cả nước thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.


MIỀN NAM TRONG TRÁI TIM TÔI


Suốt đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên quyết đấu tranh cho độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Đối với miền Nam, tình cảm của Bác càng vô cùng thắm thiết. Bác nói: “Miền Nam ở trong trái tim tôi” Những năm mà miền Nam chiến đấu chống Mỹ ác liệt, Bác có ý định vào miền Nam để thăm đồng chí, đồng bào. Nhiều lần Bác đã đề nghị với Bộ Chính trị và trực tiếp viết thư cho đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn, nêu vấn đề một cách kiên quyết. Bác đã kiên trì luyện tập sức khỏe hằng ngày để chuẩn bị cho chuyến đi khi có điều kiện. Trái tim và tấm lòng của Bác luôn hòa nhịp với trái tim và tấm lòng của quân dân miền Nam. Tình thương của Bác đối với đồng bào miền Nam bao la như biển cả, như núi cao không sao nói hết được. Mỗi khi nghĩ đến nhân dân miền Nam còn trong máu lửa là mỗi khi Bác nghĩ đến trách nhiệm của một “Người lính vâng lệnh quốc dân” 1 chưa hoàn thành. Chính vì vậy mà Bác đã từ chối chưa nhận những phần thưởng cao qúy do Nhà nước và quốc tế trao tặng.


1 Bác Hồ với miền Nam - miền Nam với Bác Hồ, NXB thành phố Hồ Chí Minh, trang 53.


Khi được tin Quốc hội sẽ tặng huân chương sao vàng – huân chương cao quý nhất, Bác đã cảm ơn Quốc hội và nói: “Đồng bào miền Nam thật là những người con anh hùng. Miền Nam thật xứng đáng với danh hiệu: “Thành đồng của Tổ quốc”, và xứng đáng được nhận huân chương cao quý nhất. Vì lẽ đó tôi xin Quốc hội chờ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hòa bình thống nhất, Bắc Nam sum hợp một nhà, Quốc hội sẽ cho phép đồng bào miền Nam trao cho tôi huân chương cao quý, như vậy toàn dân sẽ sung sướng và vui mừng”. 1 Với huân chương Lênin – Huân chương cao quý nhất của Nhà nước Liên Xô dự định tặng Bác mà Đoàn Chủ tịch Xô Viết tối cao Liên Xô đã đề nghị với Bộ Chính trị ta, Bác nói: “Các chú có cách nói của các chú, Bác có cách nói của Bác”, và Bác cũng đem chuyện đó ra nói với bạn, Bác cảm ơn Đảng, Chính phủ và nhân dân Liên Xô, nhưng nước Việt Nam chưa thống nhất nên Bác chưa nhận.


1 Hồ Chí Minh toàn tập – Tập 2, trang 287.


Một con người suốt cuộc đời hy sinh cho độc lập, tự do của dân tộc, ấm no, hạnh phúc của nhân dân, Bác không nhận một cái gì cho riêng mình, Bác không màng danh lợi, không ham bia đá, tượng đồng, Bác chỉ có một ham muốn: “ham muốn tột bậc là làm sao cho nước nhà được độc lập, nhân dân được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.


Tình cảm của Bác đối với đồng bào miền Nam là niềm tin yêu vô hạn. Trong cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, chống lại sự chia cắt, nô dịch của chủ nghĩa thực dân, miền Nam là tiền tuyến lớn của cả nước, đồng bào miền Nam đã “đi trước về sau” chịu đựng hy sinh. Mỗi lần nghe tin đồng bào miền Nam bị quân thù tàn sát lòng Chủ tịch Hồ Chí Minh lại quặn đau, nhức nhối. Bác chăm chú dõi theo từng bước đi của cách mạng miền Nam là tiêu biểu cho tình cảm thiêng liêng, cao quý của dân tộc.


Bác đã nhiều lần khẳng định một chân lý bất di bất dịch: “Đồng bào Nam bộ là dân của nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”. 1 Bác đã tuyên bố: “Nam bộ là một miếng đất Việt Nam, Đó là thịt của thịt chúng tôi, máu của máu chúng tôi”. Rồi trong những năm đen tối, Bác tin tưởng, quả quyết với quốc dân: “Nam bộ yêu quý nhất định trở lại trong lòng Tổ quốc” 1


1 Hồ Chí Minh: Miền Nam thành đồng Tổ quốc, NXB Sự thật – 1985 trang 26


Trong lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam đang trong giai đoạn gay go, ác liệt nhất. Bác căn dặn: “Đồng bào miền Bắc phải luôn luôn nhớ rằng, trong lúc chúng ta sinh hoạt và xây dựng trong hòa bình thì đồng bào miền Nam đang anh dũng hy sinh chiến đấu chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Vì vậy, mỗi người chúng ta phải làm việc bằng hai để đền đáp lại đồng bào miền Nam ruột thịt” 2. Bác đã chăm lo tổ chức, động viên, cổ vũ phong trào quần chúng ở cả hai miền. Vô luận làm việc gì, Bác điều nhắc nhở nhân dân nhớ tới miền Nam, sao cho mỗi việc làm đều có ý nghĩa thiết thực cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.


1 Hồ Chí Minh toàn tập – tập 4, trang 174
2 Sách đã dẫn – Trang 320


Những năm cuối đời, biết sức mình ngày càng yếu không thể bảo đảm cho chuyến đi thăm miền Nam bằng đường bộ hay đường biển mà Bác đã chuẩn bị kỹ trước đây, Bác đã tranh thủ gặp bất cứ đoàn cán bộ nào ở miền Nam ra để biết thêm  tình hình ở miền Nam.


Với Bác, việc chăm sóc cây vú sữa của đồng bào miền Nam gởi tặng, thăm các cháu học sinh miền Nam ra học ở miền Bắc, gặp từng đồng chí cán bộ trong Nam ra làm cho Bác khuây khỏa hơn trong nổi nhớ, niềm thương đăng đẳng đối với đồng bào miền Nam.


Những ngày trên giường bệnh, khi tỉnh dậy Bác vẫn thường hỏi: “Hôm nay miền Nam thắng đâu”. Khi bệnh nặng không còn ăn uống được Bác đề nghị cho uống chút nước dừa và mời anh em cùng uống sản phẩm của miền đất Nam bộ. Phút giây đau đớn cách ly giữa cuộc sống và cái chết, Bác vẫn cố nắm tay từng đồng chí trong Bộ Chính trị, và sau cùng Bác đã nắm chặt tay đồng chí Nguyễn Văn Linh (lúc đó Bí thư Trung ương cục miền Nam ra công tác). Dù Bác không còn nói được gì  nữa, nhưng ánh mắt và vẻ mặt của Người như đang nhắn gởi đến đồng bào miền Nam cả tình thương bao la không bờ bến. Và Bác như muốn nói với đồng chí Nguyễn Văn Linh rằng: “Miền Nam mãi mãi ở trong trái tim tôi”.
 

Vô cùng thương tiếc Chủ tịch Hồ Chí Minh đoàn đại biểu Đảng, quân, dân

 Trà Vinh tổ chức lễ truy điệu Người tại Đền thờ năm 1971.


 

 

ĐAU THƯƠNG VÀ CĂM THÙ


Ngày 02 tháng 09 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, “Tổn thất này vô cùng lớn lao!, đau thương này thật là vô hạn” “dân tộc ta và Đảng ta mất một vị lãnh tụ thiên tài và một người thầy vĩ đại”.


Bác Hồ kính yêu ra đi giữa lúc cách mạng miền Nam đang trong giai đoạn gay go nhất, ác liệt nhất. Trên chiến trường miền Nam trong những ngày đầu tháng chín ấy, mọi người đều bàng hoàng sửng sốt khi được tin đau đớn này. Nỗi buồn thương tiếc không trừ tầng lớp nào, kể cả đồng bào đang sống trong vùng địch tạm chiếm, và một số anh em trong hàng ngũ ngụy quân ngụy quyền – những người lầm đường lạc lối.


Sau khi Bác qua đời, nhân dân Trà Vinh để tang vị Cha già của mình trong đau thương, mất mát. Biết bao chiến sĩ đã nghẹn ngào giữa chiến hào, khi họ đang quyết tâm đánh thắng Mỹ – ngụy, giải phóng quê hương để sớm rước Bác vào với nhân dân miền Nam. Biết bao bà mẹ, người chị đã hy sinh chồng con của mình để sớm có ngày giải phóng quê hương, giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà, nay lại thêm một cái tang lớn, tang chung của toàn dân tộc và tang riêng cho mỗi người.


1 Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng


Trong những vùng kềm của địch, bà con Kinh – Khmer – Hoa ở vùng đất Trà Vinh thật xót xa, bàng hoàng khi nghe tin vị Cha già của họ không còn nữa. Người dân Trà Vinh đã bao đời đi theo Đảng của Bác Hồ, tin theo Đảng do Bác Hồ sáng lập, gian khổ hy sinh không sợ, khó khăn không hề lùi bước, chí quyết một lòng đánh đuổi ngoại xâm để đất nước được thống nhất, sớm thỏa lòng mong ước của Bác. Nhiều người đã khóc ròng nước mắt khi nghĩ đến công đức của Bác đối với đồng bào miền Nam. Cùng cả nước, Ban Chấp hành Thị xã ủy Trà Vinh tổ chức lễ truy điệu Bác vào tối ngày 10 tháng 9 năm 1969. Các cơ quan, đơn vị và từng gia đình lập đền thờ, thờ phượng.

 


Bọn Mỹ – ngụy thì ngày đêm từ trên máy bay dùng loa phóng thanh báo tin với mục đích hòng làm lung lay ý chí quyết tâm chiến đấu của quân dân ta. Nhưng cách mạng miền Nam vẫn đứng vững và tiến lên, bất chấp sức mạnh vật chất và sự tàn bạo của đế quốc Mỹ. Quân dân miền Nam tuyệt đối đi theo Đảng, tin theo Bác, tất cả cùng biến đau thương thành hành động cách mạng. Từ quần chúng nhân dân đến lực lượng vũ trang quyết tâm tiến lên tiêu diệt thật nhiều kẻ thù, giải phóng thêm nhiều xã, nhiều ấp. Ở thị xã Trà Vinh, Đại đội biệt động địa phương quân thị xã đã đánh chiếm ấp Hòa Lạc - một ấp ven, có đường giao thông nối liền thị xã Trà Vinh. Đại đội C.67 thị xã kết hợp với Đại đội 513 đặc công tỉnh tập kích “Câu lạc bộ chiêu hồi”, diệt gần 70 tên, ... và biết bao trận đánh khác của quân dân Trà Vinh mang hình bóng Bác trong tim, như có Bác dẫn đường trong mỗi bước đi thắng lợi.


Năm 1969, là năm địch phản kích điên cuồng đánh phá ác liệt, tát trắng vùng ven, kềm kẹp gắt gao nội ô. Chúng không từ một âm mưu thủ đoạn nào nhằm thực hiện ý đồ bình định. Chỉ hai năm 1968, 1969, riêng xã Long Đức địch đã giết chết 202 người, bị thương 148 người, đánh đập tù đày 52 người, đốt 502 căn nhà1, ..., đau thương càng thêm đau thương, căm thù chồng chất căm thù. 

 
1 Lịch sử truyền thống xã Long Đức anh hùng - Trang 48.

 
LONG ĐỨC - NƠI GẶP GỠ GIỮA LÒNG DÂN VÀ Ý ĐẢNG


Long Đức là vùng đất thép của thị xã Trà Vinh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Là xã nông thôn vùng ven gối đầu thị xã có diện tích 36,8 km2. Địa bàn Long Đức được bao bọc bởi ba con sông: Long Bình, Ba Trường, Cổ Chiên ở ba hướng Đông, Tây và Bắc. Trong chiến tranh, theo cách nhìn của các nhà quân sự, đây là địa bàn “một bề giặc lấn, ba bề sông ngăn”.


Cách Long Đức 4 km đường chim bay là trung tâm đầu não của ngụy quyền tỉnh Vĩnh Bình1. Và cách 1.500m là căn cứ quân sự hiện đại, kiên cố của Mỹ với cả hệ thống sân bay, các loại máy bay chiến đấu, máy bay trinh sát, máy bay ném bom, trực thăng; các lực lượng bảo an, cảnh sát, dân vệ và sư đoàn 9 của ngụy quyền Sài Gòn gian ác có tiếng, cùng với cả hệ thống mật vụ, tình báo của Mỹ - ngụy. Thế nhưng, Long Đức đã trở thành căn cứ cách mạng bao vây đầu não địch, nuôi dưỡng, làm bàn đạp để quân và dân ta tấn công vào sào huyệt của địch tại tỉnh lỵ. Vì vậy, Long Đức trở thành trung tâm điểm trong càn quét và bắn phá, là cái gai mà Mỹ - ngụy không yên nếu chưa nhổ được. Các loại pháo từ 20 lượt đồn bót của chúng đóng trong xã, pháo từ các loại giang thuyền tuần tiểu cả ngày đêm trên đoạn sông Cổ Chiên trước mặt; các loại bom: bom bi, bom Na - pan, bom trận, bom sát thương của các loại máy bay B.52, “cá lẹp”, “cán gáo”, trực thăng, ... tất cả chúng đều nhằm vào Long Đức, nhằm vào nhân dân đánh phá hòng xóa sạch sự nghiệp cách mạng.


1 Từ năm 1957 đến năm 1975, chế độ Sài Gòn đã đặt tên tỉnh Trà Vinh là tỉnh Vĩnh Bình.


Trên mảnh đất này, tội ác của chúng đối với đồng bào Kinh - Khmer đời đời còn khắc sâu. Đó là các trận rải thảm bom của máy bay B.52 cuối năm 1969 ở ấp Công Thiện Hùng, chết và bị thương 50 người, ở ấp Long Đại chết  và bị thương 80 người. Trước đó, năm 1967, bọn Mỹ- Ngụy đã tàn nhẫn mổ bụng lấy mật 6 cán bộ và nông dân ở Long Đức. Trong hai năm 1968, 1969, địch đã càn quét vào Long Đức 489 trận lớn nhỏ, có 61 trận càn cấp tiểu đoàn, 17 trận kết hợp cơ giới M.113. Máy bay ném bom bắn phá 370 trận, tàu trên sông Cổ Chiên bắn phá 52 trận, bắn pháo 21.900 trái, rải chất độc khai hoang 04 lần1. Sự tàn bạo man rợ đó chẳng những không làm nao núng được ý chí chiến đấu của quân dân Long Đức, mà còn làm tăng thêm lòng căm thù.


Sau ngày Bác qua đời, nhiều gia đình đã tự động thờ phượng Bác trong nhà cho khuây dần nỗi tiếc thương. Không ai bảo ai, mọi người ngày đêm đốt nén hương thơm trước linh hồn Người trong nhà mình. Những dòng nước mắt từ mỗi người dân Long Đức như quyện lại gọp thành dòng lệ suối tuôn trào trong niềm thương nhớ Bác. Bà con vẫn ao ước làm sao xây dựng được một ngôi đền dù nhỏ để thờ phượng Người. Ở đây có sự gặp nhau giữa lòng dân và ý Đảng.
 

Quân dân xã Long Đức tích cực góp

công xây dựng Đền thờ Bác lần thứ nhất.


Vào khoảng đầu năm 1970, Chi ủy xã Long Đức họp tại ấp Kinh Lớn với 11 đồng chí chi ủy viên, nhằm bàn kế hoạch thực hiện Nghị quyết của Thị xã ủy là giải phóng xã Long Đức, để mở rộng căn cứ bàn đạp cho lực lượng thị xã. Buổi sáng, Chi bộ bàn vẫn chưa đưa ra được phương án. Giờ nghỉ trưa, đồng chí Trần Văn Tư (Tư tranh, lúc này là Bí thư Thị xã ủy) cùng dự buổi họp đã nảy ra ý định phải xây dựng Đền thờ Bác trên vùng đất sẽ giải phóng. Đồng chí gọi mọi người bật dậy nói ngay, toàn Chi bộ nhất trí cao với ý định này. Sau cuộc họp của Chi ủy xã Long Đức, Thị xã ủy Trà Vinh thống nhất cao việc xây dựng Đền thờ Bác để giải phóng xã Long Đức. Phương án cũng được sự bàn bạc cụ thể và nhất trí của Tỉnh ủy Trà Vinh. Ngay sau đó, Ban Chỉ đạo xây dựng Đền thờ Bác được thành lập gồm các đồng chí xã ủy Long Đức, ấp Vĩnh Hội và cán bộ thị xã Trà Vinh do đồng chí Trần Văn Khuyên (Sáu Xúng), Ủy viên Ban Tuyên huấn thị xã Trà Vinh trực tiếp chỉ đạo. Được tin, nhân dân Long Đức ai ai cũng phấn khởi vì ước nguyện của họ sẽ được thực hiện. Tất cả đều hăm hở chuẩn bị cho việc xây dựng “công trình của trái tim” mình.


1 Lịch sử truyền thống xã Long Đức anh hùng - Trang 84

 

ĐỀN THỜ BÁC - PHÁO ĐÀI CỦA NIỀM TIN


Việc xây dựng Đền thờ Bác, ý Đảng, lòng dân như một, song vấn đề xây dựng ở đâu?, tiến hành như thế nào?, trong điều kiện đồn địch giăng giăng, phi cơ, phi pháo bắn phá hàng ngày là những vấn đề nan giải cần phải suy tính kỹ. Có ý kiến cho là nên xây dựng ngôi đền ở ấp vùng sâu như: Hòa Hữu, Kinh Lớn, ... để việc xây dựng, thăm viếng, bảo vệ thuận lợi, dễ dàng. Nhiều ý kiến cho rằng, vùng sâu thì được một số thuận lợi nhưng không có nơi cao ráo, nếu để nơi thờ phượng Bác như vậy đa số bà con không yên lòng. Bàn tính kỹ, cuối cùng Chi bộ thống nhất chọn địa điểm xây dựng là ấp Vĩnh Hội. Vị trí để xây dựng ngôi đền trên một giồng cát, có lũy tre bao bọc. Mặc dù, Vĩnh Hội là ấp tranh chấp giữa ta và địch, ngôi đền xây dựng chỉ cách đồn Vĩnh Hưng 800m và cách 1.500m đường chim bay là một căn cứ quân sự của Mỹ.  Nhưng đây lại là nơi cao ráo nhất, trước đây bà con cũng đã xây dựng đình làng nơi này. Hơn thế đây là ấp có nhiều cơ sở cách mạng, nếu Đền thờ Bác xây dựng thành công thì ngọn lửa cách mạng càng bốc cao, lòng dân sẽ mãn nguyện vì Bác đã về được ngay trên mảnh đất ác liệt này.

 


Toàn cảnh Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1971
 


Đội nữ du kích xã Long Đức quyết tâm bảo vệ từng

 tấc đất của quê hương và Đền thờ Bác.


Tin xây dựng đền thờ Bác Hồ truyền đi nhanh chóng và chỉ một tháng trong thời chiến, dù cuộc sống khó khăn, gian khổ vô cùng, nhưng đồng bào Kinh – Khmer trong xã đã góp được 200.000 đồng (tiền của Ngụy quyền Sài Gòn). Cảm động nhất là có nhiều thiếu nhi đã cố gắng dành dụm một ít tiền do công sức lao động của chính mình, như em Hồ Văn Thuật ở ấp Vĩnh Hội câu được một con cá to cũng để dành bán lấy tiền đóng góp vào việc xây dựng đền thờ Bác Hồ. Đình Vĩnh Yên thì hiến cột, chùa Phật ấp Kinh Lớn hiến cây gỗ, gia đình bà Phạm Thị Quỳ hiến khoảnh đất rẫy chưa thu hoạch để mong sớm có ngôi đền. Và cao hơn cả là hàng trăm tấm lòng hướng về Đảng, về Bác, bất chấp bom đạn của kẻ thù trực tiếp bắt tay xây dựng. Nhiều bà con khi hay tin đã chuẩn bị cho việc xây dựng đền như ông Năm Nghĩa lo đốn những cây tre tốt nhất để đan những cái ky khiêng đất, bà Hai Phụng, bà Ba Nhẫn,… lo chầm lá.


Ban Chỉ đạo quyết định ngày khởi công xây dựng là ngày 10 tháng 3 năm 1970, đồng thời thành lập các tiểu ban: bảo vệ, tiếp liệu, trang trí và tổ chức phân công. Lực lượng du kích bắt tay đắp công sự, đào chiến hào, cấm hàng vạn cây chông, bao vây đồn bót địch gần nhất, sẵn sàng đối phó nếu chúng đánh vào. Các má, các chị trong lực lượng đấu tranh chính trị được phân công bằng mọi cách liên hệ binh lính trong đồn vận động anh em “không bắn phá để bà con xây dựng đền thờ Cụ Hồ”.


Toàn bộ công việc xây dựng đền tiến hành vào ban đêm nhằm tránh phi cơ, phi pháo của địch, bảo đảm an toàn cho lực lượng. Khi chiều xuống, từng tốp người đủ các thành phần: già trẻ, lương giáo, Việt - Khmer - Hoa từ các ấp Kinh Lớn, Long Đại, Rạch Bèo, Phú Hòa, Hòa Hữu, Huệ Sanh, Công Thiện Hùng kéo về Vĩnh Hội. Có những ấp xa hàng 4,5 cây số, phải qua nhiều sông rạch thật vất vả, nhiều nơi bà con phải ngụy trang đi trước đồn địch rất nguy hiểm, nhưng đêm đêm họ vẫn đến với công trình.


Mỗi đêm, trước khi bắt tay vào công việc, mọi người được nghe lại di chúc của Bác. Trong ánh đèn đêm, công việc lấp hố bom, san nền, cưa cây, đục gỗ,… được mọi người tiến hành thuần thục. Tổ bảo vệ do đồng chí Mười Tiềm làm tổ trưởng luôn theo dõi đề phòng máy bay địch. Các mẹ, các chị, các em gái chọn những tàu lá đẹp nhất, chầm những tấm lá công phu nhất để lợp đền thờ Bác. Nhiều má tuổi đã cao, sức đã yếu, nhưng khi nghe con cháu đi làm đền thờ Bác cũng chống gậy lần mò trong đêm đến nhổ từng bụi cỏ, đập từng viên gạch. Nhiều gia đình đã thi đua lẫn nhau giữa cha và con, giữa vợ và chồng, giữa anh với em. Cả trăm lượt người từ già, trẻ, gái, trai đã tranh thủ từng đêm, bất chấp đạn bom quyết xây dựng để có ngôi đền trong thời gian sớm nhất.


Còn một công việc tưởng chừng như đơn giản, nhưng trong hoàn cảnh lúc đó thì lại rất hiếm hoi, đó là bức chân dung của Bác để đặt trong ngôi đền. Họa sĩ Phong Ba, người được giao nhiệm vụ rất băn khoăn lo lắng vì trong tay chưa có một thứ gì để thực hiện, kể cả tấm hình mẫu của Bác. Hay tin, đồng chí Tư Kol, Ủy viên Ban Tuyên huấn tỉnh mang đến cho họa sĩ bức ảnh chân dung Bác mà đồng chí đã cất kỹ từ những ngày đầu tập kết ra Bắc, lúc vào Trường Văn hóa dân tộc Hà Nội. Còn bút, mực, cọ,… thì họa sĩ nhờ người “hợp pháp” vào thị xã mua về. Sau đó là những ngày họa sĩ Phong Ba thể hiện chân dung Bác ở một căn cứ bên dòng sông Láng Thé, cách địa điểm xây dựng đền thờ Bác một cánh đồng. Và họa sĩ đã không phụ lòng mọi người, bức chân dung Bác do đồng chí vẽ với cả tấm lòng thành đã được bà con chấp nhận.


Bọn địch ở thị xã Trà Vinh đánh hơi được và tập trung bắn phá ác liệt vào ấp Vĩnh Hội. Tổ mộc gồm các ông: Dương Văn Quan, Lê Văn Quới, Trần Văn Ngoán, Huỳnh Văn Nù đã phải dời vị trí làm khung ngôi đền về ấp Kinh Lớn.


Sáng sớm ngày 15 tháng 4 năm 1970, địch đổ quân 4 mặt bằng tàu chiến và trực thăng vào ấp Vĩnh Hội, bắt đầu cho những cuộc càn quét liên tiếp mấy tháng trời. Đội du kích ấp và tổ bảo vệ đền thờ bằng sức mạnh tại chỗ, kiên trì chiến đấu, bám đất, bám dân đã đánh bật hầu hết các trận càn của địch. Song việc xây dựng ngôi đền để kịp khánh thành vào ngày 02 tháng 9 như dự định bị dở dang, lòng người dân Long Đức lại xốn xang.


Sau ngày 02 tháng 9, công việc mới được tiếp tục, không khí thi đua sôi nổi khẩn trương, ai ai cũng mong hoàn thành ngôi đền trước tết Tân Hợi năm 1971. Những chiến hào, công sự được đào lên xung quanh luỹ tre xanh bao bọc ngôi đền. Nền đất được đắp lên vững chải, cao ráo, có gạch lát xung quanh. Mặc dù pháo địch vẫn đêm đêm dội về, đèn không đốt được, song những ky đất chuyền tay nhau vẫn tự tin, các vì kèo của ngôi đền dựng lên ăn khớp với nhau, bởi đã có lửa lòng, có ánh sáng của niềm tin thay thế. Công trường rộn ràng mà trật tự, vui vẻ mà trang nghiêm.


Đến ngày 26 tháng 01 năm 1971, nhằm 30 tết âm lịch, ngôi đền – một ngôi nhà nhỏ vỏn vẹn 16m2, khung sườn bằng gỗ, mái lợp lá đã được dựng lên trong vòng tay kết chặt của những con người giàu lòng yêu nước. 5 giờ chiều hôm ấy, hơn 500 đồng bào, cán bộ chiến sĩ, các tổ chức của thị xã và một số tổ chức đơn vị của tỉnh vui mừng làm lễ khánh thành Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh1. Cờ mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được kéo lên trên cột cờ trước ngôi đền. Đại diện Tỉnh ủy, Thị xã ủy và quân dân Long Đức lần lượt thắp nén hương thơm thành kính tưởng nhớ Bác. Mọi người im lặng lắng nghe đồng chí Trần Văn Tư, Bí thư Thị xã ủy đọc lời di chúc thiêng liêng của Bác mà xúc động bồi hồi. Tất cả cùng thầm hứa sẽ quyết tâm thực hiện cho kỳ được điều mong muốn của Người “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”. Đồng chí Bí thư thị xã ủy thưa với Bác: Trong năm xây dựng Đền thờ, quân và dân thị xã đã tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu 3.000 tên Mỹ - Ngụy, 100.000 lượt quần chúng nhân dân đã tham gia đấu tranh chống Mỹ - Ngụy, nhiều người đã vận động con em những gia đình đã đi lính “quốc gia” trở về với nhân dân. Đại diện Tỉnh ủy Trà Vinh, đồng chí Lê Tấn Đạt (Tư Thi) đã biểu dương công lao to lớn của quân dân thị xã Trà Vinh đã xây dựng thành công Đền thờ Bác trong một hoàn cảnh vô cùng khó khăn, ác liệt. Thay mặt Đảng bộ và nhân dân thị xã, đồng chí Trần Văn Tư ghi vào sổ lưu niệm: “Chúng cháu sẽ kiên quyết thực hiện lời dạy quý báu và lời di chúc thiêng liêng của Bác: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn1. Đại diện Đảng bộ và nhân dân xã Long Đức, đại diện các tổ chức đoàn thể ghi vào sổ lưu niệm, hứa với Bác nguyện học tập noi theo tấm gương cao đẹp của Người, đoàn kết chiến đấu quét sạch kẻ thù ra khỏi đất nước Việt Nam.


1 Đền thờ nằm trong tọa độ 9058 “30” vĩ độ Bắc, 106022, kinh độ Đông
1 Trần Văn Tư - Lưu bút tại Đền thờ Bác Hồ, ngày 26 tháng 01 năm 1971
 


 Nhân dân đến viếng Đền thờ Bác năm 1971

 

Nhân dân đang quét dọn Đền thờ Bác vừa bị địch đốt phá (1971)

 
Đền thờ Bác là niềm tự hào của nhân dân Long Đức, là chỗ dựa tinh thần của đồng bào thị xã Trà Vinh. Tết Nguyên đán năm 1971 là cái tết đầy ý nghĩa đối với quân dân Long Đức, quân dân Trà Vinh. Chỉ đến ngày mùng bảy có trên 10.000 lượt đồng bào Kinh - Khmer - Hoa từ cụ già đến các cháu thiếu nhi, người có đạo và người không theo đạo ở các vùng giải phóng, vùng tranh chấp, vùng bình định của Mỹ - Ngụy đã đến đền thờ đốt nén hương tưởng nhớ Bác.


Khí thế cách mạng càng dâng cao sau khi Đền thờ Bác dựng lên, địch lo lắng tìm cách đối phó, chúng mở nhiều cuộc càn quét, đánh phá nhưng đều bị sức mạnh quần chúng và lực lượng du kích đánh bật ra.


Ngày 10 tháng 3 năm 1971, tên trung tá Nguyễn Văn Tài - Tỉnh trưởng tỉnh Vĩnh Bình ra lệnh cho tiểu đoàn chủ lực 404, do tên thiếu tá Lê Hữu Đông chỉ huy, có nhiều cảnh sát dã chiến đi kèm và cả pháo binh, phi cơ, tàu chiến yểm trợ. Cuộc càn quét này chúng chia làm nhiều mũi và tấn công nhiều đợt, nhưng chúng  đã dấp phải “thiên la địa võng” của chiến tranh nhân dân, nhiều tên phải đền tội vì lựu đạn gài, lôi đạp, trong đó có tên thiếu tá Đông chỉ huy cuộc càn quét. Thua đau, tên Tỉnh trưởng ra lệnh cho trực thăng “cá lẹp” bắn phá quanh đền. Đến 03 giờ chiều, bộ binh mới tiếp cận được ngôi đền, nhưng vì chông lôi và lũy tre bao quanh dày đặc nên chúng phải cho gỡ chông lôi, rồi đốt lũy tre mở một con đường, cho một toán quân vào đốt ngôi đền. Riêng ảnh Bác thì chúng không đốt mà đem về dinh tỉnh trưởng tỉnh Vĩnh Bình.


Tin ngôi đền bị đốt lan đi nhanh chóng, ngay chiều tối hôm ấy, đông đảo bà con trong xã kéo về tập trung trước sân đền, bên đống tro tàn mọi người nghẹn ngào, phẫn uất. Đồng chí Nguyễn Thị Tiếm - Bí thư Chi đoàn thanh niên xã đứng lên phát động lòng căm thù giặc, mở đợt diệt địch trả thù. Tất cả cùng hứa với nhau quyết tâm dựng lại Đền thờ Bác. Ngay sáng hôm sau, đội quân tóc dài của các mẹ, các chị trong xã kéo vào dinh tỉnh trưởng đấu tranh, buộc tên tỉnh trưởng hứa sẽ “trừng trị” đám lính.
 

Toàn cảnh Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh được xây dựng lần thứ hai.

 

Việc xây dựng Đền thờ Bác lần thứ hai trong điều kiện Mỹ - Ngụy thất bại nặng nề trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, nên chúng điên cuồng đánh phá vùng ven. Lúc này, Vĩnh Hội đã là vùng tranh chấp. Ban ngày địch dò la kiểm soát, chúng đóng 03 đồn ngay sau khi ngôi đền được dựng lên, vì vậy, luôn uy hiếp quân dân Long Đức trong việc dựng lại ngôi đền lần thứ hai. Đặc biệt, từ đồn Vĩnh Hội cách đền hơn 300m, từ các giang thuyền theo sông Cổ Chiên cách 700m, từ trên máy bay... địch sẵn sàng nhã đạn bất cứ lúc nào. Mặc dù vậy, Ban Chỉ đạo xây dựng Đền thờ Bác lần thứ hai hạ quyết tâm cùng với quân dân Long Đức đạp mọi trở ngại, vừa đánh địch vừa dựng lại ngôi đền. Vật liệu lại được mọi người đóng góp. Chùa Cao đài ở Vĩnh yên khéo léo qua mặt địch gởi 70 tấm tol và 50 bao xi măng. Anh chị em du kích ban ngày bao vây đồn bót, đêm xuống cùng dân công vào chùa kẻ vác, người khiêng cần mẫn, cẩn thận và quyết tâm lần lượt chuyển về Vĩnh Hội. Công việc xây dựng được tiến hành khẩn trương và đúng ngày 29 tết năm 1972, Đền thờ Bác xây dựng lần thứ hai hoàn thành trong niềm hân hoan của cán bộ, chiến sĩ và quân dân Long Đức.
 


       Liệt sĩ Nguyễn Văn Lượm


Việc bảo vệ Đền thờ lần này được sự chỉ đạo chu đáo của Thị xã ủy Trà Vinh và Chi bộ xã Long Đức, cùng những tấm gương bám trụ kiên cường, gan dạ của các chiến sĩ Đại đội C.67 thị xã. Các chiến sĩ trong tổ bảo vệ đã cùng với phong trào đấu tranh chính trị, binh vận của quần chúng đẩy lùi nhiều đợt tấn công của Mỹ - Ngụy vào khu vực Đền thờ. Ngày 03 tháng 10 năm 1972, địch cho máy bay đến hủy diệt ngôi đền. Ngôi đền trúng đạn bốc cháy, tổ bảo vệ Đền thờ do đồng chí Phan Văn Tiềm (Mười Tiềm) làm tổ trưởng đã kịp thời dập tắt ngọn lửa và ngôi đền vẫn đứng vững, hiên ngang cùng những con người của vùng đất thép giữa vòng vây của địch.


Trong quá trình chiến đấu bảo vệ, nhiều đồng chí đã để lại tấm gương sáng ngời như: đồng chí Nguyễn Văn Lượm, du kích xã Long Đức đã diệt tên thiếu tá Đông bằng trái nổ cách Đền thờ 120m về phía Nam. Đồng chí được công nhận là chiến sĩ thi đua cấp quân khu và được tặng danh hiệu chiến sĩ có hành động anh hùng. Ngày 18 tháng 10 năm 1974, trong một trận công đồn, đồng chí đã anh dũng ngã xuống lúc mới 21 tuổi. Đồng chí Nguyễn Văn Trị diệt tên Đại úy Quang (Tổng Quang) ác ôn khét tiếng cách Đền thờ 500m về hướng Đông Bắc. Tên này từng mổ bụng moi gan nhiều chiến sĩ cách mạng và nhân dân, đồng chí được công nhận là chiến sĩ thi đua cấp tỉnh. Ngày 13 tháng 9 năm 1972, trong một trận quyết chiến với địch để bảo vệ ngôi đền, đồng chí đã anh dũng ngã xuống. Đồng chí Phan Văn Tiềm (Mười Tiềm) giết tên trung úy Thao bằng vũ khí tự tạo ngay chân lũy tre bảo vệ đền. Cùng những mẹ, những chị như: Bùi Thị Chì, Lê Thị Diệm, Hồ Thị Nhẫn, Phan Thị Nhờ, Hồ Thị Vui, ... đã đi vào lịch sử của mảnh đất vùng ven kiên cường. Các mẫu chuyện luôn được nhắc tới, đó là việc anh lính vô danh sau khi đốt ngôi đền đã để lại 500 đồng cùng mảnh giấy ghi vội dòng chữ: “Vì bắt buộc tôi dự vào chuyện làm đại nghịch này, tôi rất hối hận, xin gửi lại chư vị ít tiền cúng vào việc trùng tu Đền thờ Cụ Hồ”. Hay sự kiện sáng sớm ngày 10 tháng 10 năm 1971 tên đại úy Quang chỉ huy một cuộc càn quét vào khu vực Đền thờ, nhưng đã vấp phải sự đánh trả quyết liệt của đội du kích và tổ bảo vệ. Đồng chí Nguyễn Văn Tèo không may bị trọng thương ở chân, chúng bắt được anh rồi thực hiện một kiểu giết, một trò chơi trên xác thịt con người hết sức man rợ. Tên Quang cho bọn lính mổ sống anh Tèo để lấy gan, lúc anh còn giãy giụa, chúng liền chặt đầu đem đi triển lãm, gọi là để răn đe phong trào cộng sản, ...
 


Liệt sĩ Nguyễn Văn Trị

 

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhiều cánh quân khi xuất trận đã về Đền thờ viếng Bác, tuyên thệ “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Lực lượng xã Long Đức dưới sự chỉ đạo của đồng chí Hồng Văn Ân nhanh chóng tiêu diệt 07 đồn bót và chiếm lĩnh căn cứ Vàm Trà Vinh, khống chế tiểu đoàn 472, đồng thời đóng cọc, thả thủy lôi ngăn vàm Trà Vinh chặn đường chi viện của địch. Trong giờ phút hấp hối chiều ngày 29 tháng 4 năm 1975, địch ngoan cố cho máy bay gồm 03 chiếc trực thăng, một chiếc L.19 đến hủy diệt ngôi đền, hòng làm nao núng ý chí tiến công của quân dân ta. Cuộc bắn phá làm hư hỏng một góc ngôi đền, song số phận của bọn Mỹ - Ngụy đến hồi kết thúc - Trà Vinh giải phóng và Đền thờ Bác Hồ cũng được sửa chữa lại.


Trong 5 năm xây dựng, chiến đấu bảo vệ Đền thờ Bác, đội bảo vệ Đền thờ và quần chúng nhân dân bằng ba mũi giáp công đã bẻ gãy hàng chục trận càn quét vào khu vực Đền thờ, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 500 tên địch, trong đó có 03 tên sĩ quan ác ôn khét tiếng: thiếu tá Đông, đại úy Quang, trung úy Thao. Lực lượng vũ trang Long Đức được Hội đồng Nhà nước tuyên dương danh hiệu anh hùng là xã “kiên cường, bám trụ, diệt địch, giữ làng”.
Sau ngày đất nước thống nhất, Đền thờ Bác không ngừng được tôn tạo thêm lên. Ngày 05 tháng 9 năm 1989, Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Theo nguyện vọng của nhân dân, Đảng bộ và chính quyền tỉnh đã đầu tư kinh phí để trùng tu tôn tạo “công trình của trái tim” này trên diện tích gần 07 héc - ta. Một nhà bao che lớn có dạng đóa sen hồng tươi được xây dựng để che mưa, che nắng cho ngôi đền. Nhà trưng bày với nhiều hiện vật, tài liệu giới thiệu về thân thế, sự nghiệp của Bác, về truyền thống đấu tranh anh dũng cũng như quá trình xây dựng và bảo vệ ngôi đền. Một công viên được quy hoạch có dạng hình một trái tim đã và đang từng bước hoàn chỉnh tạo điều kiện cho mọi người về đây viếng Bác, sinh hoạt vui chơi. Nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước như: đồng chí Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phạm Hùng, Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt, Huỳnh Tấn Phát, Lê Quang Đạo, Trần Đức Lương, Phan Văn Khải, Nông Đức Mạnh, ... cũng đã về đây viếng Bác.


Hàng năm, khu di tích đón trên 50.000 lượt khách khắp từ Nam chí Bắc, cả khách nước ngoài và kiều bào. Trong các dịp lễ hội, Đảng bộ và quân dân Trà Vinh đều về đây thắp hương tưởng nhớ Bác và báo công lên Người. Dù ở đâu, xa hay gần, trong hay ngoài nước, khi đến viếng Bác tại Đền thờ mọi người đều có chung ý nghĩ: “Đền thờ nhỏ mà tấm lòng, ý chí nhân dân Long Đức hết sức lớn. Đi thăm đền tưởng chừng như Cụ Hồ có mặt nơi đây. Mưa nắng có thể lâu ngày làm cho ngôi đền hư hỏng, nhưng tinh thần yêu nước, chiến đấu của đồng bào Long Đức vẫn đời đời sáng chói như mặt trời ở đất này”


“Đền thờ Bác Hồ, biểu tượng bất diệt, tấm lòng sắc son của nhân dân Nam bộ đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”


Lịch sử có những điều kỳ diệu ngoài sức tưởng tượng của con người. Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh ở ấp Vĩnh Hội, xã Long Đức, thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh là một trong những điều kỳ diệu ấy.


1 Giáo sư Trần Văn Giàu, lưu bút tại Đền thờ Bác Hồ, ngày 20 tháng 1 năm 1987
2 Đại tướng Võ Nguyên Giáp, lưu bút tại Đền thờ Bác Hồ, ngày 11 tháng 3 năm 1991

 

MỤC LỤC

- Lời giới thiệu            3
- Công trình của trái tim           5
- Đền thờ Bác Hồ là niềm tin, niềm tự hào      15
- Trà Vinh thực hiện di chúc của Bác       21
- Miền Nam trong trái tim tôi        30
- Đau thương và căm thù         36
- Long Đức - nơi gặp gỡ giữa lòng dân và
  ý Đảng           40
- Đền thờ Bác - pháo đài của niềm tin       44